Bắn Một Con Voi

Bắn Một Con Voi

Tác giả: George Orwell (1903-1950)

Người dịch: Quách Chương

Ở Moulmein, miền dưới Miến Điện, tôi bị rất nhiều người ghét, chỉ một lần duy nhất xảy ra trong đời tôi trở nên quan trọng. Tôi là cảnh sát sư đoàn của thị trấn, và cảm thấy rất cay đắng bởi lối chống đối người châu Âu một cách nhỏ mọn, không mục đích. Không ai đủ can đảm để gây bạo loạn, nhưng nếu một phụ nữ châu Âu đi ngang qua chợ một mình thì có lẽ ai đó sẽ nhổ nước trầu lên váy của cô ấy.

Với tư cách là một cảnh sát, tôi cũng là một mục tiêu rõ ràng và sẽ bị mắc bẫy bất cứ khi nào họ thấy có vẻ an toàn để làm như vậy. Khi một người Miến Điện nhanh nhẹn ngáng chân tôi trên sân bóng và trọng tài người Miến Điện khác nhìn sang hướng khác, đám đông hét lên với những tràng cười đáng ghê tởm. Điều này đã xảy ra nhiều hơn một lần. Cuối cùng, những khuôn mặt vàng hoe chế nhạo của những người đàn ông trẻ tuổi mà tôi gặp ở khắp mọi nơi, những lời lăng mạ đuổi theo khiến tôi căng thẳng mặc dù đang ở một khoảng cách khá an toàn. Các tu sĩ Phật giáo trẻ tuổi là những người tệ nhất. Có vài nghìn người trong số bọn họ trong thị trấn và dường như không có ai có công việc để làm ngoại trừ việc đứng ở các góc phố và chế nhạo những người châu Âu.

Tất cả điều này gây bối rối, khó chịu. Vào thời đó, tôi đã hiểu rằng chủ nghĩa đế quốc là một điều tệ hại và tôi bắt đầu muốn thoát khỏi công việc càng sớm càng tốt. Về mặt lý thuyết, tất nhiên và kín đáo, tôi đã hết lòng vì người Miến Điện để chống lại những kẻ áp bức họ, người Anh. Đối với công việc tôi đang làm, tôi ghét nó cay đắng hơn tôi có thể giải thích. Trong một công việc như vậy, bạn thấy sự bẩn thỉu của Đế chế rất rõ. Những người tù khốn khổ co ro bị nhốt trong những chiếc lồng hôi hám, khuôn mặt xám xịt, co rúm của những người bị kết án lâu năm, đôi mông đầy sẹo của những người đàn ông đã từng bị đốt bằng tre, tất cả những điều ấy đã khiến tôi có cảm giác tội lỗi không thể chịu đựng được. Nhưng tôi không thể nào thấy xa hơn. Tôi còn trẻ, ít học và tôi phải suy nghĩ vấn đề của mình trong sự im lặng hoàn toàn áp đặt cho mọi người Anh ở phương Đông. Tôi thậm chí còn không biết rằng Đế quốc Anh đang chết, tôi vẫn ít biết rằng nó tốt hơn rất nhiều so với các đế chế trẻ hơn sau này sẽ thay thế nó. Tất cả những gì tôi biết là tôi bị mắc kẹt giữa lòng căm thù đế chế mà tôi phục vụ và cơn thịnh nộ của tôi chống lại những con thú nhỏ hung ác, những kẻ cố gắng khiến công việc của tôi trở nên bất khả thi.

Với một phần trong tâm trí, tôi nghĩ về Vương quốc Anh như một chế độ chuyên chế không thể phá vỡ, như một thứ gì đó bị kìm hãm vĩnh viễn, theo ý muốn của những người dân nô lệ. Với phần khác, tôi nghĩ rằng niềm vui lớn nhất trên thế giới này là lái được lưỡi lê vào ruột của một nhà tu hành Phật giáo. Những cảm giác như thế này là nảy sinh bình thường của chủ nghĩa đế quốc; bạn hãy thử hỏi bất cứ quan chức Anh-Ấn nào xem lúc bạn gặp họ đang làm nhiệm vụ.

Một ngày nọ, những gì xảy ra trong cái vòng lẩn quẩn đã được làm sáng tỏ. Bản thân nó chỉ là một sự cố nhỏ, nhưng nó đã cho tôi cái nhìn rõ hơn so với trước đây về bản chất thực sự của chủ nghĩa đế quốc, động cơ thực sự mà các chính phủ chuyên chế hành động. Một buổi sáng sớm, viên thanh tra phụ ở đồn cảnh sát ở đầu kia của thị trấn gọi điện cho tôi và nói rằng một con voi đang tàn phá khu chợ. Tôi vui lòng đến và làm gì đó với nó? Tôi không biết mình có thể làm gì, nhưng tôi muốn xem chuyện gì đang xảy ra và tôi đã lên ngựa và khởi hành. Tôi mang theo khẩu súng trường, một khẩu .44 Winchester cũ và quá nhỏ để giết một con voi, nhưng tôi nghĩ rằng tiếng ồn có thể hữu ích trong việc khủng bố. Nhiều người Burman đã chặn tôi trên đường đi và kể cho tôi nghe về những việc làm của con voi. Tất nhiên, đó không phải là một con voi hoang dã, mà là một con voi đã được thuần hóa đã đến thời kỳ nổi loạn. Nó đã bị xích, như mọi con voi được thuần hóa khi cuộc tấn công “phải xảy ra” của chúng đã đến lúc. Nhưng vào đêm hôm trước, nó đã bị đứt xích và trốn thoát. Quản tượng của nó, người duy nhất có thể quản lý nó khi nó ở trong trạng thái đó, đã lên đường truy đuổi, nhưng đã đi sai hướng và đến lúc này đã đi được mười hai tiếng đồng hồ. Vào buổi sáng, con voi đột nhiên xuất hiện trở lại trong thị trấn.

Người dân Miến Điện không có vũ khí và khá bất lực trước nó. Nó đã phá hủy túp lều tranh của ai đó, giết một con bò, tấn công một số quầy bán trái cây và ngấu nghiến hết hàng hóa; Nó cũng đã gặp một chiếc xe tải chở rác đô thị, khi người lái xe nhảy ra nó đã kéo gót anh ta, lật đổ chiếc xe và gây ra thương tích trầm trọng.

Viên thanh tra phụ người Miến Điện và một số cảnh sát Ấn Độ đang đợi tôi ở nơi người ta nhìn thấy con voi. Đó là một khu phố rất nghèo, một mê cung của những túp lều tranh lợp bằng lá cọ, quanh co trên một sườn đồi dốc. Tôi nhớ rằng đó là một buổi sáng mây mù, ngột ngạt, trời bắt đầu mưa. Chúng tôi bắt đầu hỏi mọi người xem con voi đã đi đâu và như thường lệ, không thu được bất kỳ thông tin xác định nào. Đó luôn là trường hợp ở phương Đông; một câu chuyện luôn nghe rất rõ ràng ở khoảng cách xa, nhưng bạn càng đến gần hiện trường của các sự kiện thì nó càng trở nên mơ hồ hơn. Một số người nói rằng con voi đã đi về một hướng, một số nói rằng nó đã đi theo hướng khác, một số tuyên bố thậm chí không nghe nói về con voi nào. Tôi gần như đã quyết định rằng toàn bộ câu chuyện chỉ là một mớ bòng bong, khi chúng tôi nghe thấy những tiếng la hét cách xa hơn một chút. Có một tiếng la to, đầy tai tiếng “Biến đi con! Biến đi ngay lập tức!” và một bà già với cái cành cây trên tay đi vòng qua góc túp lều, xua đuổi đám đông trẻ em trần truồng một cách thô bạo. Một số phụ nữ khác theo sau, tặc lưỡi và kêu lên; rõ ràng là có một cái gì đó mà bọn trẻ lẽ ra không được nhìn thấy.

Tôi vòng qua túp lều và thấy xác một người đàn ông nằm ngổn ngang trong bùn. Anh ta là một culi da đen người thiểu số Ấn Độ, gần như khỏa thân, và anh ta mới chết được nhiều phút. Người dân kể rằng con voi đã bất ngờ lao tới vòng qua góc chòi, dùng vòi bắt lấy anh ta, đạp chân lên lưng và quật anh ta xuống đất. Bây giờ là mùa mưa, mặt đất mềm và khuôn mặt của anh ta đã hằn lên một rãnh sâu dài vài thước. Anh ta đang nằm sấp với cánh tay bị đóng đinh và đầu ngoẹo hẳn sang một bên. Khuôn mặt lem lấm bùn đất, đôi mắt mở to, nhe răng và cười toe toét với vẻ thống khổ khôn nguôi. Nhân tiện, đừng bao giờ nói với tôi rằng người chết trông yên bình. Hầu hết các xác chết tôi từng thấy đều trông rất dị hợm. Sự ma sát của bàn chân con thú to lớn đã lột da lưng cậu gọn gàng như da một con thỏ. Ngay khi nhìn thấy người đàn ông đã chết, tôi sai anh cần vụ đến nhà một người bạn gần đó để mượn một khẩu súng trường bắn voi. Tôi đã gửi con ngựa lại vì không muốn nó nổi điên lên do sợ hãi và quẳng tôi xuống khi nó ngửi thấy mùi của con voi.

Người cần vụ trở lại trong vài phút với một khẩu súng trường và năm băng đạn. Đúng lúc đó, một số người Burman đã đến và nói với chúng tôi rằng con voi đang ở trong cánh đồng lúa bên dưới, chỉ cách đó vài trăm thước. Khi tôi bắt đầu đi về phía trước, thực tế, toàn bộ dân chúng địa phương đã đổ ra khỏi nhà và đi theo tôi. Họ đã nhìn thấy khẩu súng trường và tất cả đều hét lên một cách phấn khích rằng tôi sẽ bắn con voi. Họ đã không thể hiện sự quan tâm nhiều đến con voi khi nó chỉ đang tàn phá nhà của họ, nhưng giờ thì khác khi nó sắp bị bắn. Nó gây cho họ sự hào hứng giống như trông thấy một đám đông người Anh; ngoài ra họ muốn thịt. Điều đó khiến tôi mơ hồ khó chịu.

Tôi không có ý định bắn con voi, tôi chỉ đơn thuần cử khẩu súng trường đến để tự vệ nếu cần và việc có một đám đông theo dõi luôn là điều vô cùng đáng lo ngại. Tôi hành quân xuống đồi, quan sát và cảm thấy mình thật ngu ngốc, với khẩu súng trường trên vai và một đội quân ngày càng đông người chen lấn theo gót mình. Ở phía dưới, khi bạn rời khỏi những túp lều, có một con đường đầy kim loại và xa hơn là một cánh đồng ngập ngụa trấu rộng hàng nghìn thước, chưa được cày xới nhưng sũng nước từ những cơn mưa đầu mùa và rải rác với rơm rạ. Con voi đang đứng cách đường tám thước, bên trái hướng về phía chúng tôi. Nó không hề để ý đến đám đông đang lại gần. Nó đang xé những bó cỏ, đập vào đầu gối cho sạch rồi nhét vào miệng.

Tôi đã dừng lại trên đường. Ngay khi nhìn thấy con voi, tôi hoàn toàn biết chắc rằng mình không nên bắn nó. Việc bắn một con voi đang làm việc là một vấn đề nghiêm trọng. Nó có thể so sánh với việc phá hủy một bộ máy móc khổng lồ và tốn kém và rõ ràng người ta không nên làm điều đó nếu có thể tránh được. Và ở khoảng cách đó, bình yên ăn uống, con voi trông không nguy hiểm hơn một con bò. Khi đó và bây giờ tôi nghĩ rằng thời khắc nổi loạn của nó đã tắt; trong trường hợp đó nó sẽ chỉ đi lang thang một cách vô hại cho đến khi người quản tượng quay lại và bắt được nó. Hơn nữa, tôi không muốn bắn nó. Tôi quyết định sẽ theo dõi nó một chút để đảm bảo rằng nó không trở nên hoang dã một lần nữa, và sau đó tôi về nhà.

Nhưng ngay lúc tôi liếc nhìn đám đông đang theo dõi mình. Đó là một đám đông vô cùng lớn, ít nhất là hai nghìn người và đang tăng lên theo từng phút. Họ chặn hai bên một đoạn dài đường. Tôi nhìn lên phía trên, cả biển người mặt da vàng ăn bận quần áo sặc sỡ, tất cả đều vui mừng và phấn khích trước sự việc vui vẻ này, tất cả chắc chắn rằng con voi sắp bị bắn. Họ đang quan sát tôi như thể họ sẽ xem một người sắp cố ý thực hiện một trò lừa. Họ không thích tôi, nhưng với khẩu súng trường thần kỳ trong tay tôi, trong giây lát, tôi rất đáng xem. Và đột nhiên tôi nhận ra rằng sau cùng thì tôi phải bắn con voi. Mọi người trông đợi điều đó ở tôi và tôi phải làm điều đó. Tôi có thể cảm thấy hai nghìn ý chí của họ đang thúc ép tôi về phía trước, không thể cưỡng lại được. Và chính vào lúc này, khi đứng đó với khẩu súng trường trên tay, lần đầu tiên tôi hiểu được sự rỗng tuếch, vô ích của quyền thống trị của người da trắng ở phương Đông. Đây là tôi, người đàn ông da trắng với khẩu súng của mình, đứng trước đám đông bản địa không vũ trang, dường như là diễn viên chính của kịch bản; nhưng trên thực tế, tôi chỉ là một con rối bị điều khiển vô lý bởi ý chí của những khuôn mặt da vàng ở đằng sau.

Vào lúc này, tôi nhận ra rằng khi người da trắng trở thành bạo chúa thì chính quyền tự do của anh ta sẽ bị anh ta hủy hoại. Anh ta trở thành một loại hình nộm rỗng tuếch, hình dạng thông thường của một quý ngài. Vì điều kiện cai trị của anh ta là anh ta phải dành cả đời để cố gắng gây ấn tượng với “người bản xứ”, và vì vậy trong mọi cuộc khủng hoảng, anh ta phải làm những gì mà “người bản xứ” mong đợi ở anh ta. Anh ta đeo một chiếc mặt nạ, và khuôn mặt của anh ta phải thay đổi thích ứng với nó. Tôi phải bắn con voi. Tôi đã cam kết làm điều đó khi tôi giử súng trường. Một quý Ngài phải hành động như một quý Ngài; anh ta phải tỏ ra kiên quyết, biết suy nghĩ của mình và làm những việc chắc chắn. Để đạt được tất cả những điều đó, súng trường trong tay, với hai nghìn người đang diễu hành theo gót tôi, và sau đó đi một cách yếu ớt, không làm gì cả, không, điều đó là không thể. Đám đông sẽ cười nhạo tôi. Và cả cuộc đời tôi, cuộc sống của mỗi người da trắng ở phương Đông, là một cuộc đấu tranh lâu dài để không bị chê cười.

Nhưng tôi không muốn bắn con voi. Tôi nhìn nó đập đống cỏ vào đầu gối của nó, với tính chăm chỉ của một bà nội mà loài voi sẵn có. Đối với tôi, dường như bắn nó là giết người. Ở độ tuổi đó, tôi không còn giận dữ về việc giết động vật, nhưng tôi chưa bao giờ bắn một con voi và cũng không bao giờ muốn làm vậy. Bằng cách nào đó, việc giết một con vật lớn dường như luôn là điều tệ hơn. Bên cạnh đó, còn xem chủ nhân của con thú sẽ tính sao? Còn sống, con voi trị giá ít nhất một trăm bảng Anh; đã chết, nó sẽ chỉ đáng giá bằng chiếc ngà của mình, có thể là năm pound. Nhưng tôi phải hành động nhanh chóng. Tôi quay sang một số người Burman trông có kinh nghiệm đã có mặt ở đó khi chúng tôi đến, và hỏi họ xem con voi đã hoạt động như thế nào. Tất cả họ đều nói một điều giống nhau: “Nó không để ý đến bạn nếu bạn để yên nó một mình, nhưng nó có thể tính sổ nếu bạn đến quá gần nó.”

Tôi hoàn toàn rõ ràng tôi phải làm gì. Tôi phải đi bộ tới bên trong, chẳng hạn, cách con voi 25 thước Anh và kiểm tra hành vi của nó. Nếu nó lao vào, tôi có thể bắn; nếu nó không để ý đến tôi, tôi sẽ an toàn để rời khỏi nó cho đến khi người quản tượng trở lại. Nhưng tôi cũng biết rằng tôi sẽ không làm như vậy. Tôi là một người bắn kém với một khẩu súng trường và mặt đất là bùn mềm mà người ta có thể chìm xuống ở mỗi bước đi. Nếu con voi lao tới và tôi bắn trượt nó, tôi sẽ có nhiều cơ hội giống như một con cóc nằm dưới một chiếc xe lu. Nhưng ngay cả khi đó tôi cũng không nghĩ gì nhiều đến làn da của chính mình, mà chỉ nghĩ đến những khuôn mặt màu vàng đang đề phòng đằng sau. Vào lúc đó, với đám đông đang theo dõi tôi, tôi không sợ hãi theo nghĩa thông thường, như tôi đã từng làm nếu tôi ở một mình. Một người đàn ông da trắng không được sợ hãi trước “người bản xứ”; và vì vậy, nói chung, anh ta không sợ hãi. Ý nghĩ duy nhất trong đầu tôi là nếu có chuyện gì xảy ra, hai nghìn người Burman đó sẽ nhìn thấy tôi bị truy đuổi, bị bắt, bị giẫm đạp và biến thành một xác chết đang cười toe toét như người Ấn Độ trên đồi. Và nếu điều đó xảy ra, rất có thể một số người trong số họ sẽ cười hả hê. Điều đó sẽ không bao giờ nên làm.

Chỉ có một giải pháp thay thế. Tôi nhét hộp đạn vào băng đạn và nằm xuống đường để ngắm bắn tốt hơn. Đám đông vẫn đông lên, và một tiếng thở dài trầm ấm, hạnh phúc, khi những người nhìn thấy bức màn rạp cuối cùng được kéo lên, thở ra vì vô số cổ họng. Rốt cuộc họ sẽ có một chút niềm vui. Khẩu súng trường là một thứ đẹp đẽ của Đức với những đường ngắm xuyên thấu. Lúc đó tôi không hiểu biết rằng khi bắn một con voi, người ta sẽ bắn để cắt một đường tưởng tượng chạy từ lỗ tai này sang lỗ tai khác. Do đó, khi con voi đang nghiêng mình phải nhắm thẳng vào lỗ tai của nó. Thực tế là tôi nhắm vào phía trước đó vài inch vì nghĩ rằng bộ não sẽ hướng về phía trước nhiều hơn.

Khi tôi bóp cò, tôi không nghe thấy tiếng nổ hoặc cảm nhận sự kích nổ – Người ta không khi nào lấy lại một phát súng – nhưng tôi nghe thấy tiếng thét vui sướng quái đản phát ra từ đám đông. Trong khoảnh khắc đó, thời gian quá ngắn, người ta sẽ có thể nghĩ rằng, ngay khi viên đạn bắn tới đó, một sự  bí ẩn khủng khiếp đã xảy ra với con voi. Nó không cựa quậy cũng không ngã, nhưng từng đường nét trên cơ thể nó đã thay đổi. Trông nó đột nhiên trở nên gầy gò, teo tóp, già nua vô cùng, như thể tác động cực mạnh của viên đạn đã làm tê liệt nhưng không đủ để quật nó ngã. Cuối cùng, sau một hồi lâu, tôi dám chắc là năm giây, nó khuỵu đầu gối xuống. Miệng nó chùng xuống. Nó hoàn toàn kiệt lực.  Người ta có thể tưởng tượng nó già đến hàng nghìn tuổi. Tôi lại bắn vào cùng một chỗ. Ở lượt bắn thứ hai, nó không gục xuống mà tuyệt vọng leo lên và đứng thẳng một cách yếu ớt, hai chân chùng xuống và đầu chúi xuống. Tôi bắn phát thứ ba. Đó là phát dành cho nó. Bạn có thể thấy sự đau đớn của nó làm cả người nó giật nảy mình và hủy hoại phần sức lực cuối cùng còn sót lại trên đôi chân. Nhưng khi ngã quỵ  xuống, nó giống như đứng dậy tức khắc, bởi vì hai chân sau chèn xuống bên dưới, khiến nó lộn nhào như một tảng đá lớn đang lăn về phía trước, vòi của nó vươn lên trời như một cái cây. Nó rống lên một lần duy nhất và rồi ngã xuống, bụng quay hướng về tôi, đập một cái rầm làm rung chuyển cả mặt đất tôi đang nằm.

Tôi vội vã đứng dậy. Người Burman đã vượt qua khỏi vũng bùn chổ tôi. Rõ ràng là con voi sẽ không bao giờ sống lại, nhưng nó chưa chết. Nó thở rất nhịp nhàng với những tiếng thở hổn hển kéo dài, đống khổng lồ nằm lật một bên trồi lên và xẹp xuống một cách đau đớn. Miệng nó mở to, tôi có thể nhìn thấy tận cái lỗ cổ họng màu hồng nhạt. Tôi đã chờ nó chết rất lâu, nhưng hơi thở của nó không hề yếu đi. Cuối cùng, tôi bắn hai phát đạn còn lại vào vị trí mà tôi nghĩ chắc là trái tim của nó. Máu nó chảy ra đặc quánh như nhung đỏ, nhưng nó vẫn không chết. Cơ thể nó thậm chí không hề giật giật khi nó bị trúng đạn, hơi thở như bị tra tấn vẫn tiếp tục không ngừng nghỉ. Nó đang chết, rất chậm và đau đớn tột cùng, nhưng ở một thế giới nào đó cách xa tôi, nơi mà ngay cả một viên đạn cũng không thể làm nó bị thương thêm. Tôi cảm thấy rằng tôi phải chấm dứt tiếng ồn đáng sợ đó. Thật hãi hùng khi nhìn thấy con thú to lớn nằm đó, không thể cử động nhưng không thể chết, và thậm chí không thể kết liễu nó. Tôi  cầm lại khẩu súng trường nhỏ của mình bắn hết phát này đến phát khác vào tim và xuống cổ họng nó. Chúng dường như không có tác dụng gì. Những tiếng thở hổn hển bị tra tấn tiếp tục đều đặn như tiếng đồng hồ tích tắc.

Cuối cùng tôi không thể chịu đựng được nữa và bỏ đi. Sau này tôi nghe nói rằng phải mất tới nửa tiếng sau nó mới chết. Người Burman đã mang tới dao rựa và giỏ ngay cả trước khi tôi bỏ đi, và tôi được thông báo rằng họ đã lột xác nó gần như thành xương vào buổi chiều.

Tất nhiên, sau đó, đã có những cuộc bàn tán không ngớt về việc bắn chết con voi. Người chủ rất tức giận, nhưng anh ta chỉ là một người Ấn Độ và không thể làm gì được. Hơn nữa, về mặt pháp lý, tôi đã làm đúng, vì một con voi điên phải bị giết, giống như một con chó điên, nếu chủ nhân của nó không kiểm soát được nó. Trong số các ý kiến ​​của người châu Âu đã bị chia rẽ. Những người đàn ông lớn tuổi nói tôi đúng, những người đàn ông trẻ tuổi nói rằng thật xấu hổ khi bắn một con voi vì nó giết một anh cu li, bởi vì một con voi đáng giá hơn bất kỳ anh cu li bản xứ chết tiệt nào. Và sau đó, tôi rất mừng vì người cu li đã bị giết; nó cho tôi quyền hợp pháp và nó cho tôi đủ lý do để bắn con voi. Tôi thường tự hỏi liệu có ai trong số những người khác hiểu rằng tôi đã làm điều đó chỉ để tránh bị đánh giá như một kẻ ngốc.


Shooting an Elephant

by George Orwell (1903-1950)

In Moulmein, in lower Burma, I was hated by large numbers of people–the only time in my life that I have been important enough for this to happen to me. I was sub-divisional police officer of the town, and in an aimless, petty kind of way anti-European feeling was very bitter. No one had the guts to raise a riot, but if a European woman went through the bazaar alone somebody would probably spit betel juice over her dress. As a police officer I was an obvious target and was baited whenever it seemed safe to do so. When a nimble Burman tripped me up on the football field and the referee another Burman looked the other way, the crowd yelled with hideous laughter. This happened more than once. In the end the sneering yellow faces of young men that met me everywhere, the insults hooted after me when I was at a safe distance, got badly on my nerves. The young Buddhist priests were the worst of all. There were several thousands of them in the town and none of them seemed to have anything to do except stand on street corners and jeer at Europeans.

All this was perplexing and upsetting. For at that time I had already made up my mind that imperialism was an evil thing and the sooner I chucked up my job and got out of it the better. Theoretically–and secretly, of course–I was all for the Burmese and all against their oppressors, the British. As for the job I was doing, I hated it more bitterly than I can perhaps make clear. In a job like that you see the dirty work of Empire at close quarters. The wretched prisoners huddling in the stinking cages of the lock-ups, the grey, cowed faces of the long-term convicts, the scarred buttocks of the men who had been Bogged with bamboos–all these oppressed me with an intolerable sense of guilt. But I could get nothing into perspective. I was young and ill-educated and I had had to think out my problems in the utter silence that is imposed on every Englishman in the East. I did not even know that the British Empire is dying, still less did I know that it is a great deal better than the younger empires that are going to supplant it. All I knew was that I was stuck between my hatred of the empire I served and my rage against the evil-spirited little beasts who tried to make my job impossible. With one part of my mind I thought of the British Raj as an unbreakable tyranny, as something clamped down, in saecula saeculorum, upon the will of prostrate peoples; with another part I thought that the greatest joy in the world would be to drive a bayonet into a Buddhist priest’s guts. Feelings like these are the normal by-products of imperialism; ask any Anglo-Indian official, if you can catch him off duty.

One day something happened which in a roundabout way was enlightening. It was a tiny incident in itself, but it gave me a better glimpse than I had had before of the real nature of imperialism–the real motives for which despotic governments act. Early one morning the sub-inspector at a police station the other end of the town rang me up on the phone and said that an elephant was ravaging the bazaar. Would I please come and do something about it? I did not know what I could do, but I wanted to see what was happening and I got on to a pony and started out. I took my rifle, an old .44 Winchester and much too small to kill an elephant, but I thought the noise might be useful in terrorem. Various Burmans stopped me on the way and told me about the elephant’s doings. It was not, of course, a wild elephant, but a tame one which had gone “must.” It had been chained up, as tame elephants always are when their attack of “must” is due, but on the previous night it had broken its chain and escaped. Its mahout, the only person who could manage it when it was in that state, had set out in pursuit, but had taken the wrong direction and was now twelve hours’ journey away, and in the morning the elephant had suddenly reappeared in the town. The Burmese population had no weapons and were quite helpless against it. It had already destroyed somebody’s bamboo hut, killed a cow and raided some fruit-stalls and devoured the stock; also it had met the municipal rubbish van and, when the driver jumped out and took to his heels, had turned the van over and inflicted violences upon it.

The Burmese sub-inspector and some Indian constables were waiting for me in the quarter where the elephant had been seen. It was a very poor quarter, a labyrinth of squalid bamboo huts, thatched with palmleaf, winding all over a steep hillside. I remember that it was a cloudy, stuffy morning at the beginning of the rains. We began questioning the people as to where the elephant had gone and, as usual, failed to get any definite information. That is invariably the case in the East; a story always sounds clear enough at a distance, but the nearer you get to the scene of events the vaguer it becomes. Some of the people said that the elephant had gone in one direction, some said that he had gone in another, some professed not even to have heard of any elephant. I had almost made up my mind that the whole story was a pack of lies, when we heard yells a little distance away. There was a loud, scandalized cry of “Go away, child! Go away this instant!” and an old woman with a switch in her hand came round the corner of a hut, violently shooing away a crowd of naked children. Some more women followed, clicking their tongues and exclaiming; evidently there was something that the children ought not to have seen. I rounded the hut and saw a man’s dead body sprawling in the mud. He was an Indian, a black Dravidian coolie, almost naked, and he could not have been dead many minutes. The people said that the elephant had come suddenly upon him round the corner of the hut, caught him with its trunk, put its foot on his back and ground him into the earth. This was the rainy season and the ground was soft, and his face had scored a trench a foot deep and a couple of yards long. He was lying on his belly with arms crucified and head sharply twisted to one side. His face was coated with mud, the eyes wide open, the teeth bared and grinning with an expression of unendurable agony. Never tell me, by the way, that the dead look peaceful. Most of the corpses I have seen looked devilish. The friction of the great beast’s foot had stripped the skin from his back as neatly as one skins a rabbit. As soon as I saw the dead man I sent an orderly to a friend’s house nearby to borrow an elephant rifle. I had already sent back the pony, not wanting it to go mad with fright and throw me if it smelt the elephant.

The orderly came back in a few minutes with a rifle and five cartridges, and meanwhile some Burmans had arrived and told us that the elephant was in the paddy fields below, only a few hundred yards away. As I started forward practically the whole population of the quarter flocked out of the houses and followed me. They had seen the rifle and were all shouting excitedly that I was going to shoot the elephant. They had not shown much interest in the elephant when he was merely ravaging their homes, but it was different now that he was going to be shot. It was a bit of fun to them, as it would be to an English crowd; besides they wanted the meat. It made me vaguely uneasy. I had no intention of shooting the elephant–I had merely sent for the rifle to defend myself if necessary–and it is always unnerving to have a crowd following you. I marched down the hill, looking and feeling a fool, with the rifle over my shoulder and an ever-growing army of people jostling at my heels. At the bottom, when you got away from the huts, there was a metalled road and beyond that a miry waste of paddy fields a thousand yards across, not yet ploughed but soggy from the first rains and dotted with coarse grass. The elephant was standing eight yards from the road, his left side towards us. He took not the slightest notice of the crowd’s approach. He was tearing up bunches of grass, beating them against his knees to clean them and stuffing them into his mouth.

I had halted on the road. As soon as I saw the elephant I knew with perfect certainty that I ought not to shoot him. It is a serious matter to shoot a working elephant–it is comparable to destroying a huge and costly piece of machinery–and obviously one ought not to do it if it can possibly be avoided. And at that distance, peacefully eating, the elephant looked no more dangerous than a cow. I thought then and I think now that his attack of “must” was already passing off; in which case he would merely wander harmlessly about until the mahout came back and caught him. Moreover, I did not in the least want to shoot him. I decided that I would watch him for a little while to make sure that he did not turn savage again, and then go home.

But at that moment I glanced round at the crowd that had followed me. It was an immense crowd, two thousand at the least and growing every minute. It blocked the road for a long distance on either side. I looked at the sea of yellow faces above the garish clothes-faces all happy and excited over this bit of fun, all certain that the elephant was going to be shot. They were watching me as they would watch a conjurer about to perform a trick. They did not like me, but with the magical rifle in my hands I was momentarily worth watching. And suddenly I realized that I should have to shoot the elephant after all. The people expected it of me and I had got to do it; I could feel their two thousand wills pressing me forward, irresistibly. And it was at this moment, as I stood there with the rifle in my hands, that I first grasped the hollowness, the futility of the white man’s dominion in the East. Here was I, the white man with his gun, standing in front of the unarmed native crowd–seemingly the leading actor of the piece; but in reality I was only an absurd puppet pushed to and fro by the will of those yellow faces behind. I perceived in this moment that when the white man turns tyrant it is his own freedom that he destroys. He becomes a sort of hollow, posing dummy, the conventionalized figure of a sahib. For it is the condition of his rule that he shall spend his life in trying to impress the “natives,” and so in every crisis he has got to do what the “natives” expect of him. He wears a mask, and his face grows to fit it. I had got to shoot the elephant. I had committed myself to doing it when I sent for the rifle. A sahib has got to act like a sahib; he has got to appear resolute, to know his own mind and do definite things. To come all that way, rifle in hand, with two thousand people marching at my heels, and then to trail feebly away, having done nothing–no, that was impossible. The crowd would laugh at me. And my whole life, every white man’s life in the East, was one long struggle not to be laughed at.

But I did not want to shoot the elephant. I watched him beating his bunch of grass against his knees, with that preoccupied grandmotherly air that elephants have. It seemed to me that it would be murder to shoot him. At that age I was not squeamish about killing animals, but I had never shot an elephant and never wanted to. Somehow it always seems worse to kill a large animal. Besides, there was the beast’s owner to be considered. Alive, the elephant was worth at least a hundred pounds; dead, he would only be worth the value of his tusks, five pounds, possibly. But I had got to act quickly. I turned to some experienced-looking Burmans who had been there when we arrived, and asked them how the elephant had been behaving. They all said the same thing: he took no notice of you if you left him alone, but he might charge if you went too close to him.

It was perfectly clear to me what I ought to do. I ought to walk up to within, say, twenty-five yards of the elephant and test his behavior. If he charged, I could shoot; if he took no notice of me, it would be safe to leave him until the mahout came back. But also I knew that I was going to do no such thing. I was a poor shot with a rifle and the ground was soft mud into which one would sink at every step. If the elephant charged and I missed him, I should have about as much chance as a toad under a steam-roller. But even then I was not thinking particularly of my own skin, only of the watchful yellow faces behind. For at that moment, with the crowd watching me, I was not afraid in the ordinary sense, as I would have been if I had been alone. A white man mustn’t be frightened in front of “natives”; and so, in general, he isn’t frightened. The sole thought in my mind was that if anything went wrong those two thousand Burmans would see me pursued, caught, trampled on and reduced to a grinning corpse like that Indian up the hill. And if that happened it was quite probable that some of them would laugh. That would never do.

There was only one alternative. I shoved the cartridges into the magazine and lay down on the road to get a better aim. The crowd grew very still, and a deep, low, happy sigh, as of people who see the theatre curtain go up at last, breathed from innumerable throats. They were going to have their bit of fun after all. The rifle was a beautiful German thing with cross-hair sights. I did not then know that in shooting an elephant one would shoot to cut an imaginary bar running from ear-hole to ear-hole. I ought, therefore, as the elephant was sideways on, to have aimed straight at his ear-hole, actually I aimed several inches in front of this, thinking the brain would be further forward.

When I pulled the trigger I did not hear the bang or feel the kick–one never does when a shot goes home–but I heard the devilish roar of glee that went up from the crowd. In that instant, in too short a time, one would have thought, even for the bullet to get there, a mysterious, terrible change had come over the elephant. He neither stirred nor fell, but every line of his body had altered. He looked suddenly stricken, shrunken, immensely old, as though the frighfful impact of the bullet had paralysed him without knocking him down. At last, after what seemed a long time–it might have been five seconds, I dare say–he sagged flabbily to his knees. His mouth slobbered. An enormous senility seemed to have settled upon him. One could have imagined him thousands of years old. I fired again into the same spot. At the second shot he did not collapse but climbed with desperate slowness to his feet and stood weakly upright, with legs sagging and head drooping. I fired a third time. That was the shot that did for him. You could see the agony of it jolt his whole body and knock the last remnant of strength from his legs. But in falling he seemed for a moment to rise, for as his hind legs collapsed beneath him he seemed to tower upward like a huge rock toppling, his trunk reaching skyward like a tree. He trumpeted, for the first and only time. And then down he came, his belly towards me, with a crash that seemed to shake the ground even where I lay.

I got up. The Burmans were already racing past me across the mud. It was obvious that the elephant would never rise again, but he was not dead. He was breathing very rhythmically with long rattling gasps, his great mound of a side painfully rising and falling. His mouth was wide open–I could see far down into caverns of pale pink throat. I waited a long time for him to die, but his breathing did not weaken. Finally I fired my two remaining shots into the spot where I thought his heart must be. The thick blood welled out of him like red velvet, but still he did not die. His body did not even jerk when the shots hit him, the tortured breathing continued without a pause. He was dying, very slowly and in great agony, but in some world remote from me where not even a bullet could damage him further. I felt that I had got to put an end to that dreadful noise. It seemed dreadful to see the great beast lying there, powerless to move and yet powerless to die, and not even to be able to finish him. I sent back for my small rifle and poured shot after shot into his heart and down his throat. They seemed to make no impression. The tortured gasps continued as steadily as the ticking of a clock.

In the end I could not stand it any longer and went away. I heard later that it took him half an hour to die. Burmans were bringing dahs and baskets even before I left, and I was told they had stripped his body almost to the bones by the afternoon.

Afterwards, of course, there were endless discussions about the shooting of the elephant. The owner was furious, but he was only an Indian and could do nothing. Besides, legally I had done the right thing, for a mad elephant has to be killed, like a mad dog, if its owner fails to control it. Among the Europeans opinion was divided. The older men said I was right, the younger men said it was a damn shame to shoot an elephant for killing a coolie, because an elephant was worth more than any damn Coringhee coolie. And afterwards I was very glad that the coolie had been killed; it put me legally in the right and it gave me a sufficient pretext for shooting the elephant. I often wondered whether any of the others grasped that I had done it solely to avoid looking a fool.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.